Chương 1 – Thời thơ ấu (Khát vọng trái tim)

RẮC RỐI CỦA BỐ MẸ TÔI

Công việc kinh doanh đầu tiên của bố mẹ mà tôi còn nhớ được là gia công may và buôn bán áo len. Hà Nội trong trí nhớ của tôi khi ấy lạnh hơn bây giờ nhiều. Những năm tôi học mẫu giáo và cấp một nhà tôi lúc nào cũng ngập trong len, những cuộn len và những chiếc áo len trải dài từ tầng ba xuống tầng một.

Những năm 90 ấy mùa đông thì rét mà mọi người thì vẫn chưa có yêu cầu quá cao về mẫu mã. Khi ấy hàng hóa từ nước ngoài nhập về Việt Nam còn hiếm và đắt, đa phần là hàng hóa từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Người giàu họ có nhiều lựa chọn hơn còn những người bình thường chỉ cần một chiếc áo len vừa ấm vừa bền. Áo len ngày đó bền lắm, tôi có một chiếc áo len mặc mãi mà không hỏng. Cũng như những đứa trẻ khác thôi, tôi cũng muốn có quần áo mới và tôi phát bực với áo len của mình.

Khi đấy cả khu tập thể nếu có nhà nào làm len thì đều làm cho gia đình tôi. Có những người đã quá tuổi và về hưu nên nhận việc làm thêm, có gia đình cũng cho con cái gia công áo len để kiếm thêm thu nhập. Nhà tôi trở thành một nơi chứa hàng và các nhà khác cũng trở thành kho. Sau khi thành phẩm, chúng tôi giao hàng đến chợ Đồng Xuân và một số nơi khác để họ bán lại cho người mua cuối cùng.

Bán áo len là việc kinh doanh theo mùa vụ. Cũng như nông dân vậy, miếng ăn của gia đình chúng tôi phụ thuộc vào thời tiết. Nếu trời rét thì chúng tôi có thể bán hết hàng chỉ trong vài hôm nhưng nếu nếu đến Tết nguyên đán mà trời vẫn chưa có đợt rét nào thì chúng tôi phải ôm hàng tồn. Tôi nhớ, có một năm, đến những ngày giáp Tết rồi mà trời vẫn chưa rét, gia đình tôi chắc mẩm là năm nay không có Tết thì đột nhiên trời trở rét. May mắn sao số áo len cũng bán hết vừa kịp Tết. Mỗi năm chúng tôi có một vụ kinh doanh áo len, được ăn cả ngã về không.

Đến khi tôi học những năm cuối cấp một công việc kinh doanh này nhanh chóng trở nên lỗi thời, phần ngã về không ngày càng nhiều hơn. Chỉ trong vài năm hàng hóa từ nước ngoài đã tràn vào Việt Nam, không chỉ là hàng hóa đắt đỏ của Đông Âu nữa. Hàng hóa của nước ngoài vừa nhiều, mẫu mã đẹp mà giá cũng chỉ như những chiếc áo len muôn-đời-không-hỏng và muôn-đời-không-thay-đổi của chúng tôi. Thời tiết cũng dần ấm hơn, mọi người cũng ít chọn áo len hơn, thay vào đó là những áo khoác dày và thời trang hơn. Hàng thì nhiều mà người mua không có. Không chỉ có gia đình tôi mà các gia đình khác ở khu tập thể đều không tìm được đầu ra như trước. Thương vụ làm ăn này rồi cũng phải dừng lại. Gia đình tôi không còn sống nổi với nghề này.

Làm ăn riêng là thế, bạn phải làm tất cả mọi việc, từ gia công sản phẩm, tìm kiếm người hợp tác, tìm kiếm khách hàng, tính toán, phân tích, lo cho đời sống những người cùng làm việc với mình. Kinh doanh trong thời buổi kinh tế còn khó khăn thì căn nhà của mình cũng trở thành nơi sẵn xuất kiêm kho bãi, tóm lại, chẳng còn phút giây nào ngoài công việc cả. Mà kinh doanh trong thời đất nước vừa mở cửa, bạn phải luôn nắm bắt được sự thay đổi chóng mặt của thị trường. Chỉ cần ngủ một giấc thức dậy là một trào lưu mới có thể nhấn chìm việc kinh doanh của bạn, nhất là trong ngành may mặc.

Cũng chính vì hiểu được sự vất vả của việc kinh doanh riêng nên bố mẹ tôi luôn ngăn cản tôi đi theo con đường này. Đến cả việc làm thêm lúc còn đi học bố mẹ tôi cũng không khuyến khích. Thế nhưng, biết làm sao, dòng máu thích thử thách, mê mạo hiểm có dập cũng không tắt được. Tôi thừa hưởng nó từ bố mẹ mà.

Khi tôi vào cấp hai thì căn nhà không còn bị vùi trong len nữa nhưng lại bị vùi trong một thứ khác. Bố tôi, ông chẳng bao giờ muốn dừng làm một điều gì đó mới cả.

KHU TẬP THỂ HỒNG HÀ

Tôi sinh ra trong một gia đình trung lưu xuất thân gốc từ vùng quê Bắc Ninh, khi sinh tôi thì bố mẹ đã chuyển lên Hà Nội để lập nghiệp. Thời ấy, chúng tôi ở trong khu tập thể văn phòng phẩm Hồng Hà ngõ 190 Lò Đúc vì mẹ tôi làm việc cho công ty Văn phòng phẩm Hồng Hà. Cơ quan hỗ trợ cho gia đình tôi một căn hộ nhỏ trong khu. Khu tập thể được xây dựng từ năm 1959, đến khi gia đình tôi chuyển đến thì khu nhà cũng đã được 30 năm tuổi. Hàng xóm quanh chúng tôi cũng toàn là những người đang làm việc cho Hồng Hà hoặc đã về hưu. Vào thời bao cấp đó, cuộc sống của chúng tôi cũng không dư giả nhiều.

Đến giờ, tôi vẫn còn cảm nhận được rõ mồn một cái nóng mùa hè của những năm tháng ấy. Căn tập thể nhỏ của chúng tôi rộng khoảng 30 mét vuông, kín mít không có cửa sổ, bao giờ cũng ngột ngạt. Gia đình tôi bốn người ở đấy. Các nhà ở cùng tầng thì lại đua nhau đun bếp than nấu nướng, khói bay nghi ngút không sao thở nổi. Chắc cũng vì cái nóng bức bí bách ấy mà tôi mọc dôm khắp người, mặt mũi tay chân toàn những dôm nên tôi vẫn thường bị gọi là “Hải Dôm”. Bây giờ nhiều người vẫn bảo tôi trắng quá nhìn như con gái nhưng hiếm ai biết được một thời người tôi toàn dôm. Ngay khi sinh tôi ra, mọi người trong gia đình đều vô cùng thất vọng, tôi đen sì nằm trong tay mẹ. May là khoảng một tháng sau tôi hồng hào trở lại như những đứa trẻ khác, cả ông bà bố mẹ tôi ai nấy thở phào nhẹ nhõm và mừng rơn.

Lúc ấy tôi còn bé, cứ mỗi khi quá nóng tôi kêu khóc và không chịu ngủ nên hai bố con cứ cởi trần rồi bố đặt tôi lên bụng mà hát ru. Sau này khi gia đình tôi chuyển xuống căn nhà ở tầng dưới, không còn bí bức như nhà cũ thì bố cũng không còn để tôi lên bụng như trước. Gần đây, khi thấy bố ôm và ru cô cháu gái mới một tuổi của anh tôi ngủ thì tôi lại nhớ, ước gì mình bé lại để được bố bế và ru ngủ như thuở nhỏ.

Lúc tôi học mẫu giáo mẹ tôi được thăng chức và gia đình tôi được chuyển xuống khu nhà bên dưới. Chúng tôi vẫn trong khu tập thể ấy nhưng thoải mái hơn vì đã thoát cảnh bị hun khói nghi ngút mỗi giờ nấu ăn. Nhưng bù lại căn nhà thứ hai của chúng tôi thường bị ngập. Ngày đó hệ thống thoát nước rất tệ, mỗi khi mưa lớn thì nhà tôi lại ngập. Bố mẹ tôi vẫn thường lo sợ ban đêm nhà bị ngập tôi có thể rơi khỏi giường và chết ngạt. Bây giờ khu tập thể ấy đã được xây lại, khang trang hơn, đẹp hơn, không còn chịu cảnh ngập lụt như ngày xưa nhưng cũng có nhiều thứ không còn nữa.

Trước đây bên cạnh khu tập thể của chúng tôi là một khoảng sân rộng. Bọn con nít chúng tôi thường chơi đá bóng ở đấy vì lúc đấy hàng điện tử vẫn chưa phổ biến. Có những hôm không có bóng cũng không đứa nào còn tiền mua bóng chúng tôi chơi đuổi bắt. Cũng là một dạng đá bóng đấy, nhưng thay vì đuổi nhau để bắt bóng thì chúng tôi bắt người. Hoặc không thì chúng tôi lại chơi trốn tìm. Đôi khi có vài anh láu cá trốn luôn về nhà để bọn còn lại đi tìm khi nào mệt thì thôi. Giờ khoảng sân ấy đã trở thành bãi đỗ xe máy còn xung quanh khu tập thể cũng đã khoác lên một vẻ ngoài công nghiệp.

Cuộc sống của tôi cho đến hết những năm cấp hai đều quanh đi quẩn lại trong khu nhà tập thể đó. Mãi cho đến khi gia đình tôi chuyển sang nơi khác thì bạn bè từ thuở nối khố của tôi cũng là những đứa cùng lớn lên ở ngõ 190 Lò Đúc.

GIA ĐÌNH NHỎ CỦA TÔI

Tôi phải thừa nhận rằng, mình thừa hưởng rất nhiều tính cách từ bố, nhất là tính ưa thử thách. Bố tôi tốt nghiệp Đại học Bách Khoa, sau đó ông đi làm nhà nước được một thời gian ngắn. Khi anh trai tôi ra đời thì bố sang Tiệp Khắc. Ông sang đấy không phải vì được học bổng hay vì hợp đồng lao động nào như lí do xuất ngoại của nhiều người cùng thời. Bố tôi tự mua vé đi, tự tìm nơi ở, tự tìm công việc chỉ vì ông thích cái mới, thích trải nghiệm.

Lần đầu tiên ông đến đấy là một ngày tuyết rơi, tuyết rơi trắng trời. Ông cứ đi bộ và mò mẫm trong đêm, trong người không có đồng nào, không có ai liên lạc, không biết đường sá. Ông cứ đi như thế may sao vẫn đến được chỗ thuê nhà. Lúc đấy nghề gì ông cũng làm, cứ có ai chịu trả tiền cho ông thì ông làm. Về phần ăn uống, khá may mắn là bên ấy những thứ như lòng, gan động vật người Tiệp không ăn nhưng lại là món khoái khẩu của người Việt. Thế nên những người Việt trẻ trong đó có bố tôi đến xin phần thừa đó, nói là cho thú nuôi ăn nhưng là để mang về cho buổi tối thịnh soạn của họ. Thời đó, nhiều người bạn khác trở về chỉ có vài cân đường, hộp sữa, còn bố tôi rất tự hào sau quãng thời gian ba năm bôn ba lao động tích cóp đã mua được một chiếc xe Super Cup mang về nước. Cả thời mẫu giáo của tôi vẫn in hình ảnh chiếc xe đó bố dùng nó để chở cả gia đình bốn người chúng tôi vi vu khắp Hà Nội. Sau ba năm ở Tiệp Khắc, trong tay ông đã có một số vốn để bắt đầu việc kinh doanh riêng.

Việc kinh doanh đầu tiên mà tôi nhớ được là thương vụ áo len. Khi việc buôn bán ế ẩm và không tìm được đầu ra bố tôi liền thấy cơ hội ở giấy, vở, thiết bị văn phòng phẩm. Vì mẹ tôi làm việc ở Hồng Hà nên bố vẫn được mua với giá ưu đãi. Hơn nữa, người ta luôn có nhu cầu giấy vở quanh năm chứ không chỉ làm một vụ mỗi năm như áo len. Và từ đó gia đình tôi cũng không còn phải sống trông vào thời tiết nữa. Lúc tôi lên cấp hai thì căn nhà của chúng tôi lại ngập trong giấy vở. Cứ mỗi đợt tựu trường, những chiếc xe tải nhỏ lại chở đến hàng trăm dây vở. Mỗi dây vở nặng khoảng 10 cân. Tôi hai tay hai bên, mỗi bên 10 cân mà bê. Những ngày bình thường công việc ấy cũng nhàn nhã nhưng cứ đến lúc cao điểm xe thì chạy ùn ùn mà ngõ vào nhà thì bé. Chúng tôi cứ bê lên bê xuống mấy trăm dây vở như thế trong một buổi. Thường thì khi bê xong tôi cũng chỉ còn có thể nằm đơ ra một chỗ. Nhưng cũng vì khoảng thời gian bê vác ấy mà sức khỏe tôi cũng cải thiện. Lúc trước tôi bé nhất bọn, bao giờ cũng bị bạn bè và anh trai tẩn cho nhưng lên cấp hai tôi khỏe lên thấy rõ và tôi thường đánh thắng trong những lần đánh nhau.

Lúc đấy gia đình tôi cũng đã chuyển đến khu Đầm Trấu gần bến xe Lương Yên. Nhà chúng tôi lớn hơn nên cũng chứa được nhiều hàng hơn. Giấy vở bao giờ cũng được chất kín từ sàn đến trần nhà. Mùa hè của tôi những năm cấp hai luôn gắn với kho giấy vở. Bố vẫn thường chở vở ra chợ nên tôi ở nhà để canh nếu có ai đến thì lại bê hàng xuống. Còn mẹ tôi, bà vẫn hằng ngày đi làm làm ở Hồng Hà, tối về thì cùng bố lo việc buôn bán.

Mẹ tôi học rất giỏi. Gen di truyền ấy có lẽ không đến được với tôi. Bà học giỏi nhưng lại không giỏi thể dục thể thao. Hồi còn đi học mẹ tôi suýt không tốt nghiệp được cũng chỉ vì điểm môn thể dục. Lúc ấy là thời bao cấp, người người cùng nhau trong không khí xây dựng đất nước nên điểm thể dục rất quan trọng. May sao bà vẫn được tốt nghiệp.

Công việc đầu tiên của mẹ tôi là nhân viên bán hàng ở cửa hàng văn phòng phẩm Hồng Hà, rồi cứ thế bà được thăng chức từng chút một. Đến khi về hưu thì bà là kế toán trưởng, bà gắn bó với Hồng Hà gần như một đời. Hiện giờ tuy đã hưu nhưng mẹ tôi vẫn tư vấn tài chính cho công ty khi cần. Nghe như thể mẹ tôi là một người an phận, ít thay đổi, trái ngược hoàn toàn với bố nhưng kì thực mẹ lại là một người rất năng động. Bà là nữ tướng trong gia đình, sáng đi làm ở công ty, chiều về nhà chăm hai đứa con trai, quán xuyến nhà cửa, tối lại lo việc kinh doanh với bố. Tôi không hiểu vì sao mẹ có thể làm ngần ấy việc trong một ngày.

Bố mẹ tôi đều là những người có thiên hướng kinh doanh nhưng ông bà thích làm ăn một cách chắn chắn, tiền tích cóp dần dần chứ không quá mạo hiểm đặt cược hết tất cả vào một việc kinh doanh nào. Khi tôi và anh trai còn bé thì bố mẹ đều rất bận rộn nhưng đều dành nhiều thời gian cho con cái. Gia đình tôi bao giờ cũng ăn cơm cùng nhau ba bữa một ngày. Trong bữa cơm gia đình tôi nói với nhau nhiều chuyện và bố mẹ thường dạy dỗ anh em chúng tôi trong không khí ấm cúng ấy, nhưng đến khi bố mẹ nói sang chuyện học hành của tôi thì tôi sẽ ăn cho nhanh và chuồn mất. Sau này tôi bận rộn hơn, không thể cùng ngồi ăn cơm ba bữa một ngày nhưng tôi vẫn luôn muốn giành thời gian cho nếp sinh hoạt ấy.

Thành viên cuối cùng trong gia đình, cũng là người đã trải qua hết tuổi thơ cùng tôi là anh trai. Anh tôi dường như nhận được hết gen học giỏi từ bố mẹ. Từ nhỏ anh ấy đã là một học sinh ưu tú, luôn đỗ vào các trường nổi tiếng. Anh tôi cũng tự học và đỗ vào Bách Khoa theo truyền thống gia đình. Trong lớp cơ khí khi ấy anh theo học có năm sáu trăm người thì anh tôi vẫn là người đứng đầu lớp. Năm cuối đại học có một công ty ở Nhật mời anh sang làm với một mức lương rất hấp dẫn. Anh ấy sang Nhật được ba năm. Cuộc sống ở Nhật rất tốt, thu nhập khá nhưng lại buồn vì khác biệt văn hóa và xa gia đình, bạn bè. Anh tôi trở về Việt Nam, tiếp tục làm việc cho các công ty của Nhật. Giờ anh đã có gia đình và có một cháu gái.

Bọn tôi có một kỉ niệm từ hồi tôi học mẫu giáo. Khi đấy anh đến đón tôi trùng ngày trường tôi tháo hết nước bể bơi. Nhìn thấy thế anh lao ngay vào biểu diễn một màn trượt băng nghệ thuật nhưng chàng nghệ sĩ của tôi đã ngã lăn ra và gãy nửa cái răng cửa. Đến giờ anh vẫn khốn khổ phải đi trồng răng lại thường xuyên vì chuyện đó. Khi còn bé hai chúng tôi rất thường đánh nhau như mọi anh em trai trên đời. Lúc học cấp một tôi rất bé lại yếu ớt nên thường bị đánh, lên cấp hai với việc bê vở hằng ngày tôi khỏe lên hẳn, đến lúc đó anh tôi lại thua tôi. Bọn tôi cứ đánh nhau như thế mãi đến lớn. Giờ nhắc lại những chuyện trẻ con ấy cả hai đều buồn cười.

Anh tôi sau này ra đời làm việc sớm hơn tôi, lại kinh qua môi trường làm việc quốc tế nên thường có nhiều điều khuyên bảo tôi hơn. Chúng tôi cũng không cách tuổi nhau quá nhiều nên những điều anh nói gần gũi hơn bố mẹ.

Tính anh tôi rất giống bố, còn tôi càng lớn lại càng giống mẹ hơn. Cả bố và anh đều rất nóng tính, khi có chuyện gì trái ý là mắng ngay, nhưng tính quyết liệt ấy lại rất hợp với những người làm kinh doanh. Tính mẹ tôi đúng là một nhân viên nhà nước, khi có mâu thuẫn bà lên tiếng nhưng nếu không có kết quả bà sẽ im lặng và làm phần việc của mình. Mẹ tôi ít khi to tiếng, bà muốn làm tốt việc mình muốn làm, đó là một cách chứng minh tốt nhất. Có lẽ môi trường quyết định một phần rất lớn tính cách của mỗi người. Tôi không được dĩ hòa vi quý như mẹ chắc vì trong người cũng có máu nóng và liều của bố nhưng khi lớn hơn tôi cũng thấy mình gần với mẹ hơn. Gia đình nhỏ của tôi là thế, nhưng phần lớn những mùa hè tuổi thơ tôi là câu chuyện về ông bà.

ÔNG BÀ TÔI

Lúc nhỏ tôi khá ù lì nên bố mẹ cũng lo lắng cho cậu con trai. Cứ mỗi dịp hè đến bố mẹ đều cho tôi cho tôi về quê chơi với ông bà nội để tôi thoát khỏi sự tù túng mà các cậu bé ở thành phố phải chịu đựng. Sống ở quê, không còn những căn chung cư bí bách và những dãy phố quanh đi quẩn lại, mỗi ngày tôi đều sống giữa đồng ruộng mênh mông. Tôi còn nhớ những cơn gió lúc ấy luôn mang mùi hương của lúa khiến một cậu bé như thôi vô cùng thích thú. Tôi bao giờ cũng mong ngóng mùa hè đến. Cứ mỗi chiều chiều là tôi cùng hai cô em họ Hằng và Trang đều ở trên ruộng bắt châu chấu, chuồn chuồn rồi chia phe chơi đuổi bắt, trốn tìm với các cô cậu bé khác ở xung quanh.

Tôi nhớ, mỗi buổi sáng ông nội lại bảo tôi ngồi lên bàn học rồi dạy các kiến thức của năm học sau. Dù bà tôi cũng là giáo viên nhưng bà vẫn thường dành việc dạy dỗ con cháu lại cho ông vì ông rất nghiêm nghị, chúng tôi ai cũng ngồi học nghiêm túc. Cả ông nội và ông ngoại tôi đều cùng quê cả, hai ông tốt nghiệp Đại học Bách khoa rồi đều được học bổng sang các nước Liên bang Xô Viết. Ông ngoại tôi chọn thử thách mình với một môi trường mới, còn phần nội tôi khi chuẩn bị đi thì đất nước xảy ra chiến tranh với Mỹ, ông quyết định ở lại nước và nhập ngũ. Sau khi bố và cậu tôi được sinh ra thì ông cũng gia nhập quân đội như bao người thanh niên thuở đó. Trong một lần hành quân ông đã lấy thân mình che viên bom bi phát nổ cho hai mẹ con dân thường. Mảnh vỡ từ quả bom ấy cắm vào cột sống và làm ông liệt hai chân. Dù phải giải ngũ rồi về quê sinh sống với thương tật như vậy, ông tôi luôn vui vẻ và đối xử tốt với hàng xóm chung quanh, nhưng mỗi khi trái gió trở trời thì mảnh bom ấy lại làm ông đau đớn, không sao chộp mắt nổi.

Bà nội tôi lúc đó vừa chăm sóc ông, vừa làm nghề giáo còn khiêm luôn nghề làm thuốc đông y. Bà tuy không giàu nhưng rất được tôn trọng và bạn bè yêu quý. Bà tôi rất thương cháu, nhưng có lẽ tôi là cháu trai nên được bà đặc biệt chiều chuộng. Có một lần bà hỏi tôi thích ăn món gì, tôi bảo thích sườn chua ngọt, thế là suốt ba tháng, mỗi ngày hai bữa bà đều làm sườn chua ngọt. Bà thường ít khuyên bảo chúng tôi, cũng vì thấy ông đã dạy nhiều nên bà ít khi nói để chúng tôi còn được tự do vui chơi ba tháng hè. Lúc tôi bắt đầu viết quyển sách này thì bà mới mất hơn một tháng. Trước khi bà đi vài tiếng, tôi đã kịp bay từ Sài Gòn về quê, tôi ở bên cạnh bà cùng đông đủ các thành viên viên trong gia đình và hàng xóm xung quanh. Khi nhìn bà chảy nước mắt và ra đi nhẹ nhàng, tôi biết bà đã có một cuộc đời viên mãn.

Chuyện gia đình bên ngoại tôi lại khác. Sau khi ông tôi học ở Liên Xô về thì được bổ nhiệm làm giám đốc một bể bơi của Nhà nước. Ở đấy ngoài bể bơi còn có nhiều trò chơi khác nên tôi rất thích đến bể bơi ông tôi làm việc. Tôi được bơi miễn phí đã đành còn được chơi đủ thứ môn: bóng bàn, bi lắc, billiard,… Bố mẹ tôi cũng thích để tôi chơi ở bể bơi vì vừa tôi vừa được ông bà trông lại vừa được chơi thể thao. Cũng nhờ thế mà sau này môn nào tôi cũng biết chơi nên khi gặp gỡ khách hàng cũng đỡ lóng ngóng hơn.

Bà ngoại tôi trước đây dạy cùng trường với bà nội ở Bắc Ninh. Sau này bà chuyển về Hà Nội cùng với ông. Khác với bà nội, ngoại tôi thường chiều anh trai tôi hơn vì tôi hay nghịch hơn nên rất hay bị bà mắng. Tuy thường mắng tôi nhưng bà lại rất biết cách “trị” tôi. Khi tôi học mẫu giáo, cứ đến giờ về là bà lại sang đón tôi. Bà luôn dắt tôi đi dạo vài vòng quanh hồ Hai Bà Trưng và cho tôi ăn vặt, thế là tôi ngoan ngoãn nghe theo bà.

Nhờ có ông bà mà tuổi thơ của tôi không phải chỉ quanh đi quẩn lại từ nhà đến trường, từ trường về nhà, suốt ngày bê hàng cho bố mẹ. Ông bà nội ngoại đều là những người đã ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thơ và định hình tính cách của tôi vì thời gian tôi ở cạnh ông bà còn nhiều hơn cả bố mẹ. Sự điềm đạm, khiêm nhường, luôn lo lắng cho người khác là những đức tính tuyệt nhất tôi học được từ ông bà.

TRƯỜNG HỌC VÀ QUÁN ĐIỆN TỬ

Cuộc sống phổ thông của tôi đều diễn ra xung quanh hồ Hai Bà Trưng. Tôi học tiểu học ở trường Đồng Nhân, trường cách nhà chỉ hai phút đi bộ, vì thế tôi chỉ quanh quẩn đi bộ từ nhà đến trường rồi từ trường về nhà. Bạn bè trong trường tôi vẫn là các bạn và anh chị trong khu tập thể Hồng Hà, đi đâu bọn tôi cũng gặp toàn người quen. Từ nhỏ tôi học hành đã chẳng vào đâu, không sao giống anh trai mình được. Suốt năm năm cấp một tôi chỉ có hai năm được học sinh giỏi. Chuyện học đã chẳng có gì khấm khá mà lại còn thường hay đánh nhau.

Có một lần không hiểu vì chuyện gì tôi đánh nhau với một bạn nữ. Hai đứa trẻ con cứ thế lao vào đánh nhau chẳng nghĩ gì cả. Bọn tôi đánh nhau rất dữ, các bạn học đều túm tụm vào xem. Sau hôm đấy hai đứa chúng tôi bị cô giáo mời phụ huynh rồi bố mẹ của bạn ấy đến hẳn nhà tôi gõ cửa để xem mặt đứa con trai nào lại đi đánh nhau với bạn nữ. Bố mẹ tôi ra mở cửa thì mới biết cả hai gia đình đều là bạn bè làm len với nhau cả. Thế là từ sau hôm ấy bọn tôi làm hòa rồi thành bạn bè.

Nhớ lại quãng thời gian cấp hai tôi còn tự sợ mình. Hồi đấy tôi dậy thì khá sớm, mới lên lớp sáu mặt đã bắt đầu mọc mụn. Tôi lại mê Đan Trường, để mái chẻ năm năm giống thần tượng, tóc lúc nào cũng lòa xòa vào mặt thế là mụn lại càng mọc nhiều hơn. Giọng thì bắt đầu vỡ, lúc nào cũng khàn khàn. Trông tôi khi đấy già hơn hẳn các bạn cùng lớp. Và cũng trong thời gian học cấp hai ở trường Trưng Nhị, tôi trở thành “con nghiện” game điện tử.

Tôi lớn dần thì bố mẹ cũng thả lỏng hơn, tôi gặp nhiều bạn bè và có nhiều trò vui hơn. Rồi bọn bạn rủ tôi chơi điện tử, lúc đấy tôi bỗng nhận ra: “Điện tử quá hay, bắn súng với bạn bè quá thích!” Hai trò chơi phổ biến lúc bấy giờ là bắn súng Half-Life và chiến trận StarCrafs. Ngày nào tôi cũng nhịn ăn sáng, ăn trưa để lấy tiền chơi điện tử. Sáng trước khi vào học bọn tôi ngồi ở quán điện tử, học xong trưa lại ra quán điện tử, chơi xong lại đi học thêm, học thêm xong lại ngồi ở quán điện tử, chiều tối tôi về nhà ăn cơm một bữa là cùng. Thầy cô dù biết bọn tôi thường xuyên ngồi ở quán điện tử nhưng cũng không la mắng nhiều vì bọn tôi vẫn giữ thành tích học tập khá. Cũng vì suốt ngày luyện game mà mắt tôi tăng độ vù vù. Nhóm bọn tôi chơi với nhau chán lại lập hội đấu với các lớp khác trong khối. Nhóm tôi thường xuyên thắng nhất, được thế bọn tôi chơi ngày càng hăng hơn. Chơi ở trường mãi cũng chán, bọn tôi lên tận khu đại học Bách Khoa để đấu với các anh ở đấy vì ở đấy có rất nhiều “trình” khác nhau. Nhìn lại thì việc chơi game này ít ra cũng có mặt tốt là giúp mấy đứa con trai trong lớp thân thiết nhau hơn.

Đến năm lớp tám thì cô chủ nhiệm cũng quản lý chặt việc chơi game của bọn con trai hơn. Bọn tôi chuyển sang chơi lén lút. Có lần, cả bọn chui vào một phòng ở tầng hai của quán điện tử để chơi thì một cậu bạn đang rảnh bước ra ngoài cửa sổ nhìn xung quanh. Cậu ấy nhìn thấy cô giáo dạy toán nên gọi “cô Mai ơi !” để trêu cô, định bụng là cô không thể nghe được nhưng không ngờ cô ngẩng mặt lên nhìn thấy cậu. Cô liền gọi ngay cô chủ nhiệm đến, hai cô cử lớp trưởng lên ghi lại tên của cả đám bọn tôi và mời phụ huynh. Bọn tôi dần cho cậu bạn một trận tội nghịch dại. Sau đấy cả bọn bị bố mẹ cắt “viện trợ”.

Năm lớp chín bọn tôi lại có kỷ niệm với thầy giáo dạy tin học. Chúng tôi thường ngồi nửa buổi để điểm danh rồi sau đó trốn đi chơi, thầy rất dễ tính nên dù biết nhưng cũng không la mắng gì. Đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, hôm đấy bọn tôi bị cô hiệu phó bắt gặp và thầy tin học cũng bị vạ lây. Thầy bị kỷ luật vì không quản lí được học trò, bọn tôi còn áy náy mãi vì chuyện ấy. Nhắc đến thầy cô tôi nhớ nhất là cô Linh dạy văn, cũng là cô giáo chủ nhiệm bốn năm cấp hai của tôi. Cô tuy nghiêm khắc, không cho bọn tôi chơi game nhiều nhưng cũng là người rất quan tâm đến học sinh. Cô dạy văn rất hay, đến độ một đứa không thích đọc sách như tôi lúc đó cũng được cô truyền cảm hứng với văn học. Tôi nhớ ngày tổng kết cuối năm, rắt nhiều bạn gái ở trường đã khóc vì chúng tôi sẽ không còn nhiều dịp gặp lại nhau nữa. Giờ vào dịp 20/11 bọn tôi vẫn tập hợp được hơn chục đứa trong lớp cũ đến thăm cô Linh và ôn lại kỷ niệm xưa. Hai năm nay từ khi vào Hồ Chí Minh lập nghiệp tôi chưa có dịp về lại thăm cô.

Sau khi thi tốt nghiệp bố mẹ bảo tôi thi vào Chu Văn An. Tôi tuy vẫn ôn thi vào Chu Văn An nhưng vẫn nộp đơn vào trường trung học Trần Nhân Tông vì trường ở ngay gần trường cấp hai, ở đấy tôi cũng quen bạn bè, các anh chị ở khu tập thể cũ và các khu xung quanh. Phần tôi cũng thấy mình khó vào được Chu Văn An. Vì thế, mỗi ngày bố vẫn chở tôi đến trường luyện thi nhưng tôi và cậu bạn thì vẫn trốn học đi chơi game. Tiết toán bọn tôi trốn ra ngoài, đến tiết văn lại vào vì nghe giảng văn vẫn vui hơn là ngồi làm toán. Bọn tôi thường đứng ở tầng trên và thả thẻ học xuống cho mấy cậu bạn quên mang thẻ theo rồi trốn đi. Có lần cả bọn bị bắt và tịch thu hết thẻ học thế nên chắc chắn tiết toán đầu giờ bọn tôi không thể vào được. Đến tiết văn không ai kiểm tra cả bọn lại chạy vào. Ngày thi xong tôi đoán chắc mình không thể đỗ vào đây nên tâm lí rất thoải mái, thi xong cũng không xem lại kết quả. Lúc đó thì tôi nhận được giấy của trường Trần Nhân Tông và tôi vào trường Trần Nhân Tông.

Nghĩ lại lúc đó chuyện nghiện game của tôi cũng có mặt tích cực. Sau khoảng thời gian cấp hai thì tôi cũng không còn mấy hứng thú với game nữa, trẻ con luôn thích rất nhanh và chán cũng nhanh. Lên cấp ba tôi lại say mê với một niềm vui khác. Hồi đấy bọn tôi cũng còn quá nhỏ nên không chủ hàng điện tử nào dám cho chúng tôi chơi nợ, chúng tôi nhịn ăn được bao nhiêu tiền thì chơi bấy nhiêu, mà tiền của bọn con nít thì chẳng đủ để chúng tôi “ăn dầm nằm dề” trong quán như trong các bài báo. Và cũng vì đã chơi chán chê qua hết bốn năm nên sau này tôi không muốn thử “cày game” lại lần nào nữa.

(Còn tiếp)

—–

Xem thêm:
Lời mở đầu

Chương 1

Chương 2

Chương 3

Chương 4 (End)


Comments

Leave a comment